Pages

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Tế Hanh và lần đến thăm Côn Đảo

     Không phải chỉ có các nấm mồ trên mặt cát, mà dưới các nấm mồ còn năm, bảy lớp xương tù, đào sâu xuống 5 mét còn xương trắng. Thăm banh I, banh II, xà-lim 13, xà-lim 15, từng giam các đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Hoàng Quốc Việt, Lê Đức Thọ, Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Duy Trinh, v.v… Tôi tần ngần đứng mãi trước xà-lim giam Thủ tướng Phạm Văn Đồng, hầm xay lúa Bác Tôn. Lịch sử từng qua đấy.

Tế Hanh và lần đến thăm Côn Đảo

Thăm các trại, các banh:

Xuân về cấm cố một nơi

Xuân về hai trại một trời cách xa.

     Nhưng rồi không phải là trại nữa. Mà là chuồng. Chuồng bò, chuồng heo, chuồng cọp… Tên là tên thú, nhưng để giam người. Chúng muốn hạ nhân phẩm chúng ta với cái tên chuồng ấy.

Trong chuồng cọp máu quanh tường lớp lớp

Sào bịt đồng đăm thọc nát thịt xương

Vôi bột tuôn, nước dội tiếng kêu hờn

 Anh trước nga, em sau liền tiến tới

     Ta thường nói chiến trường, chiến trường biên giới, chiến trường Stalingrad, chiến trường Quảng Trị cổ thành. Côn Đảo cũng là một chiến trường suốt một thế kỷ này. Với nghĩa bóng và nghĩa đen, máu bầm đen của nó:

… Tám phòng chiến địa, chiến trường xa quê

… Thương người tù đổ máu tay không

     Với tinh thần bất khuất trên chiến trường ấy, người tay không đã thắng.

     Hình như sau mười năm, ta quên dần tội ác và hình ảnh cụ thể của Mỹ – ngụy. Ta cũng bắt đầu gọi “chế độ cũ” một cách khái quát nhẹ nhàng, xem nó như một thứ chế độ nào, có tốt có xấu.

    Hình như có người quên mất cái tay từng cầm sào bịt đồng đâm thọc vào ta, cái tay dội nước, tuôn vôi bột mà lại nhớ nó có khi cầm sách hay cầm đàn. Hình như cái hình ảnh anh cán bộ thoái hóa, anh bộ đội biến chất, lắm lúc có thể phần nào xóa nhòa, che chở, cứu rỗi cho bọn ác ôn xưa nữa! Không được! Tôi muốn mọi người đến thăm các nhà tù cũ, thăm Côn Đảo, những nơi mà kẻ thù là kẻ thù và ta chính là ta.

     Tập thơ này góp phần vào việc đó.Đất nước thừa người làm thơ mà thiếu người viết sứ. Không câu thơ viếng mộ các anh hùng.Có lần tôi đã viết như vậy. Nhưng các bạn trong tập này đâu có làm thơ!

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tho tre em

Thơ và tù ngục

… Giải phóng quân mở cửa cả nhà giam

 Đất nước Việt: Bắc – Nam – Trung thống nhất…

… Trận cuối cùng giành độc lập tự do

Kìa nắng mới: chói ngời qua song sắt

      Những câu thơ tiên tri ánh sáng, báo hiệu ngày lên như vậy là viết giữa bóng đêm, không phải chỉ sau song sắt mà trong xích xiềng và trước mũi súng các nhà tù Mỹ – ngụy.

Thơ và tù ngục

       Giữa lễ kỷ niệm mười năm giải phóng, in một tập thơ của anh chị em ta viết trong các nhà tù, cũng không phải vì các bài thơ ấy, vì các anh chị em làm ra thơ ấy, mà vì hàng vạn đồng chí khác trong bóng đêm đã góp phần làm ra ánh sáng ngày nay. Chớ chuyện thơ trong tù là chuyện cũ mèm!

       Cách đây ngót một thế kỷ, cụ Huỳnh Thúc Kháng đã viết THI TÙ TÙNG THOẠI (nói chuyện thơ tù). Cách đây ngót một thế kỷ, chí sĩ Lã Xuân Oai trước lúc qua đời (1891) còn để lại CỒN ĐẢO THỈ TẬP, có thể là tập thơ sớm nhất từ địa ngục trần gian này. Cả nước vừa kỷ niệm 150 năm ngày sinh thi hào dân tộc Nguyễn Khuyến. Chính Nguyễn Khuyến trong bài văn tế Lã Xuân Oai cũng nhắc đến Côn Lôn:

Thương thay tiên sinh

Trường học chửa sang sửa kịp, áo tù đã khoác lên mình

 Và cuối cùng phải đi đày ở Côn Lôn vậy!

        Chuyện cũ mèm. Thế nhưng in một tập thơ tù, tù Côn Đảo, lúc này lại là điều cấp bách. Chủ tịch Trường Chinh đến thăm Côn Đảo có nhắc đến “Tác dụng giáo dục truyền thống cách mạng thế hệ này và các thế hệ mai sau” của Đảo. Thế nhưng chúng ta đã làm được những gì sau lời căn dặn này?

        Cách xa đất liền hàng trăm cây số bể trời, lùi xa trong thời gian 10 năm từ ngày giải phóng, có phải Côn Đảo cũng tụt xuống trong thứ bậc quan tâm suy nghĩ của ta chăng?

       Hầu hết các lãnh tụ yêu nước trước Đảng: Lã Xuân Oai, Đặng Nguyên cẩn, Ngô Đức Kế, Phan Chu Trinh… và rất nhiều đồng chí lãnh đạo của Đảng ta: Bác Tôn, đồng chí Lê Duẩn, chủ tịch Phạm Văn Đồng đều bị giam ở Côn Đảo. Côn Đảo từ hơn trăm năm nay gắn liền với phong trào cách mạng cả nước. Và cũng chỉ cả nước mói có điều kiện, có sức, có tiền để lo cho Côn Đảo. Ngay việc lấy tài liệu để viết về Côn Đảo có khi phải làm từ những noi cách Côn Đảo hàng nghìn cây số, như quyển BẤT KHUẤT của đồng chí Nguyễn Đức Thuận, ta phải làm từ Hà Nội, hay tập này tại thành phố Hồ Chí Minh. Và đã lo cho Côn Đảo, cho các nhà tù cũ, ta phải lo gấp: Nhiều đồng chí ta từ các noi ấy trở về năm 1975, nay cũng đã qua đời hay già yếu, không nhớ rõ được các chuyện cũ. Ai đó bảo tôi rằng nhà lao lớn của Mỹ – ngụy ở Phú Quốc mất đi nhiều dấu tích! Và khi tôi ra thăm Côn Đảo, thì bút tích anh em trên các bức lường có noi được quét vôi, hoặc là thời gian rêu phủ rồi.


Thứ Năm, 30 tháng 7, 2015

Tế Hanh thổi tình người vào những thứ anh viết

       Ấy thế, mà với con người thích những gì êm đềm, gần gũi ấy, Cách mạng đã đến và đưa đi xa. Đi vào nhân dân, đi vào lịch sử đang sôi động, vào cả những con bão lửa dữ dằn, xáp trận với quân thù. Không phải anh bị động, bị đưa đi, như kẻ thù của chúng ta thường hay nói “bị tẩy não, cải tạo” gì gì… Chính chúng ta chủ động ra đi, sang bên kia bờ tư tưởng: Sang bờ tư tưởng ta lìa ta Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà.


Tế Hanh thổi tình người vào những thứ anh viết

        Ta lìa ta, nhưng cũng để lại gặp ta, ở một noi đẹp hơn, trong một tư thế cao hơn. Tế Hanh không bị đánh mất trong cuộc đi xa. Trái lại, từ một Tế Hanh mảnh khảnh, yếu đuối ban đầu, chúng ta đã có thêm nhiều Tế Hanh nửa, trước kia Tế Hanh không ngờ tới, và làm sao Hoài Thanh đoán được. Tế Hanh viết về đấu tranh thống nhất, Tế Hanh tả các công trình chủ nghĩa xã hội, Tế Hanh trên các đề tài quốc tế, Tế Hanh làm thơ thiếu nhi, Tế Hanh đả kích kẻ thù. Và giữa bao nhiêu cái rộn ràng ấy, thì cái lõi, cái thực chất Tế Hanh, người tình nhân, vẫn còn lại đó:

        Ngày mai đây trong biến động liên hổi Anh không thể giữ cả nhưng gì yêu quý nhất Nhưng tình anh đối với em không thể mất người tình nhân trong anh bây giờ vẫn tặng những gì gần gũi:

Một chút buồn trong nắng trong cây

 Một chút buồn trong gió trong mây

Nhưng mà anh đã đi xa về! Tặng vật phải có gì khác nữa:

Tặng em thế kỷ chúng ta

 Nỗi vui nỗi khổ đều qua vội vàng

        “Tặng em thế kỷ chúng ta”, đây là cái thời đại, lịch sử đem đến. Nhung “nỗi vui nỗi khổ”… đấy lại Tế Hanh rồi. Cái giỏi của Tế Hanh là ờ chỗ ấy. Anh đã làm cho các điều xa lạ hóa thân quen:

Tưởng như trăng gió không thay đổi

Mà tấm lòng tôi đãkhác xa

        Đọc thơ anh, bảo rằng đã khác xa cũng được. Mà bảo là không thay đổi cũng được:

Em đang gieo giống, anh chào

 Bóng anh lái máy ngả vào tay em

          Gieo giống, lái máy là chuyện khá xa với tình yêu. Nhưng thuần hóa nó thế nào mà Tế Hanh đã đưa nó vào rất đỗi hồn nhiên, tự nhiên trong câu thơ có anh và em muôn thuở:

Tên lửa sáng đi vào vũ trụ

Qua chòm sao Thết Nữ ghé chơi

           Vũ trụ, chòm sao, tên lửa là chuyện ở trên trời. Nhưng ghé chơi, thì đã lại gần rồi. Tế Hanh đã đưa các chuyện cực vời xa vào quỹ đạo tình cảm quen thuộc dưới mặt đất:

Sáng tứ Matxcơva

Mùa đông bay tuyết trắng

 Chiều đã đến Yalta

Mùa thu còn húng nắng

         Những điểm không gian xa đã nhịp theo cái nhịp điệu thời gian thu đông, chiều sáng rất gần.

        Tế Hanh đã cưỡng lại cái hướng đi của cuộc sống đề gần ư, cuộc sống đang muốn đưa chúng ta đi xa, xa nữa. Không phải, chính khi anh “gần hóa” các sự vật kia, là anh đang viết trong hướng thuận, chứ không phải hướng nghịch. Cách mạng dù đưa chúng ta đi xa đến đâu cũng để làm cho chúng ta gần, gần với nhân dân, gần với nhân tình. Và nếu có một kỹ thuật của Tế Hanh thì cũng là kỹ thuật này: anh thổi cái tình người vào hạt giống, máy cày, chòm sao, tên lửa, vào cái tên sao trên trời hay tên phố dưới đất… làm cho nó thấm tình người, cho nó có hồn người, cái hồn như mảnh hồn làng anh từng viết.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ thiếu nhi hay

Thơ Tế Hanh chữ ít mà nghĩa rất nhiều

        Có những bài thơ Tế Hanh, khi đạt là như vậy. Chữ ít mà nghĩa rất nhiều. Không phải nghĩa nữa, đó là hồn, tâm hồn, cái không thể đo bằng đơn vị chữ hay nghĩa.

Thơ Tế Hanh chữ ít mà nghĩa rất nhiều

Phố này đêm ấy có trăng

Cùng đi một quang nói bằng lặng im

Phố này anh đến tìm em

Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây

Anh theo các phốđó đây

Thêm yêu Hà Nội vắng đầy cả em

        Vắng mà đầy, lặng im mà là tiếng nói, bóng cây mà chính bóng người, thơ là đưa ta vào cái quãng “khả giải – bất khả giải chi gian” ấy, thực hư, hư thực. Vẫn là câu chuyện mảnh hồn làng trên cánh buồm làng.

         1939, Nhất Linh viết về Tế Hanh: “Có thể gọi hai bài thơ Quê hương và Vu vơ là hai bài thơ hay của thi ca Việt Nam và hai bài đó xác định giá trị về nhà thơ Tế Hanh”. Từ ấy đến nay, trên 45 năm, ngót nửa thế kỷ. Thời gian ấy cũng không chỉ là thời gian, đó là lịch sử. Tế Hanh cũng không chỉ là nhà thơ, anh còn là công dân, là chiến sĩ như nhân dân mình. Cố nhiên các việc ấy không ngăn chúng tôi – trong đó có Tế Hanh – viết bao nhiêu bài thơ dở! Nhưng kể về những bài hay, thì Tế Hanh đã có gấp 10 lần, 20 lần những bài trên mức Quê huơng và Vu vơ. Nhưng thơ đâu là số lượng. Nhờ có Cách mạng, nhờ có nhân dân, Tế Hanh đã đem một chất mới cho bản thân mình, riêng của mình, rất Tế Hanh và cái riêng ấy đã đóng góp vào cái chung của nền văn học.

        18-8-1985 Kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng Tám Thơ và tù ngục

… Giải phóng quân mở cửa cả nhà giam

Đất nước Việt: Bắc – Nam – Trung thống nhất…

… Trận cuối cùng giành độc lập tự do

Kìa nắng mới: chói ngời qua song sắt

       Những câu thơ tiên tri ánh sáng, báo hiệu ngày lên như vậy là viết giữa bóng đêm, không phải chỉ sau song sắt mà trong xích xiềng và trước mũi súng các nhà tù Mỹ – ngụy.

        Giữa lễ kỷ niệm mười năm giải phóng, in một tập thơ của anh chị em ta viết trong các nhà tù, cũng không phải vì các bài thơ ấy, vì các anh chị em làm ra thơ ấy, mà vì hàng vạn đồng chí khác trong bóng đêm đã góp phần làm ra ánh sáng ngày nay. Chớ chuyện thơ trong tù là chuyện cũ mèm!


Thơ của Tế Hanh bộc trực tả tình

      Tế Hanh đã cưỡng lại cái hướng đi của cuộc sống đề gần ư, cuộc sống đang muốn đưa chúng ta đi xa, xa nữa. Không phải, chính khi anh “gần hóa” các sự vật kia, là anh đang viết trong hướng thuận, chứ không phải hướng nghịch. Cách mạng dù đưa chúng ta đi xa đến đâu cũng để làm cho chúng ta gần, gần với nhân dân, gần với nhân tình. Và nếu có một kỹ thuật của Tế Hanh thì cũng là kỹ thuật này: anh thổi cái tình người vào hạt giống, máy cày, chòm sao, tên lửa, vào cái tên sao trên trời hay tên phố dưới đất… làm cho nó thấm tình người, cho nó có hồn người, cái hồn như mảnh hồn làng anh từng viết.

Thơ của Tế Hanh bộc trực tả tình

        Là nhà thơ, ai không sử dụng hái tim mình. Nhưng nếu như người này nhân nó lên bằng tưởng tượng, tư duy, người kia chia nó ra thành nghìn mảnh nhỏ phân tích, Tế Hanh lại cộng nó cùng sự vật. Những nhà thơ kia ưng độc thoại, tự mình đi sâu vào trong trái tim mình, không sợ nó mô – cung, không sợ nó loa – thành, Tế Hanh lại thích mở rộng mình ra, đối thoại cùng khách thể. Mỗi nhà thơ có một cách riêng, và cộng nghìn cách ấy, ta có một diện mạo chung của một nước, một thời. Tế Hanh có kể chuyện, có nói ý, có tổ tình, có tưởng tượng, có đào sâu vào tiềm thức, có cấu trúc ngôn từ như tất cả các nhà thơ, nhưng ở anh, nhạc trưởng chỉ huy chính là tình cảm. Hay đúng hơn, Tình cảm đối với, đối với ai, đối với gì, đối với cuộc đời.

       Thơ của Tế Hanh vì thế bộc trực tả tình, trần tình, tình để ở trần, hơn là nấp sau, che dưới một cái tứ. Cố nhiên anh có nhiều bài lập tứ khá hay. Nhưng tứ ở anh không phải cái bẫy

       Cầu kỳ của trí tuệ để nhử những con chim kỳ lạ, mà chì là cái nhành giản đơn vừa đủ cho tình cảm bay về.

        Gần chục, hơn chục bài thơ của anh cấu tứ theo lối đối đáp. Nhu cầu đối thoại, giao tiếp là nhu cầu của trái tim cởi mở này. Hình như trước mắt anh luôn có một người bạn, một người em, một độc giả mà anh nói với. Nói bằng cái thể dỗ ru người là lục bát, bằng cái câu gần với tiếng nói, dễ lọt tai người là ngũngôn và bằng cái giọng nhẹ nhàng nhưng rất sâu thẩm:

Cúi đầu từ biệt mẹ

Từ biệt cả làng quê

Quê mẹ không còn mẹ

Bao giờ con lại về

Đó là những chữ thường gặp như nước ta uống hàng ngày không có gì lạ cả. Nhưng uống lên, thì đấy là thơ. Phép lạ hàng ngày.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bai tho thieu nhi

Tế Hanh đã đưa các chuyện cực vời xa vào quỹ đạo tình cảm dưới mặt đất

    Cách mạng đã đến và đưa đi xa. Đi vào nhân dân, đi vào lịch sử đang sôi động, vào cả những con bão lửa dữ dằn, xáp trận với quân thù. Không phải anh bị động, bị đưa đi, như kẻ thù của chúng ta thường hay nói “bị tẩy não, cải tạo” gì gì… Chính chúng ta chủ động ra đi, sang bên kia bờ tư tưởng:

Sang bờ tư tưởng ta lìa ta

Một tiếng gà lên tiễn nguyệt tà

Tế Hanh đã đưa chuyện cực vào quỹ đạo tình cảm dưới mặt đất

      Ta lìa ta, nhưng cũng để lại gặp ta, ở một noi đẹp hơn, trong một tư thế cao hơn. Tế Hanh không bị đánh mất trong cuộc đi xa. Trái lại, từ một Tế Hanh mảnh khảnh, yếu đuối ban đầu, chúng ta đã có thêm nhiều Tế Hanh nửa, trước kia Tế Hanh không ngờ tới, và làm sao Hoài Thanh đoán dưực. Tế Hanh viết về đấu tranh thống nhất, Tế Hanh tả các công trình chủ nghĩa xã hội, Tế Hanh trên các đề tài quốc tế, Tế Hanh làm thơ thiếu nhi, Tế Hanh đả kích kẻ thù. Và giữa bao nhiêu cái rộn ràng ấy, thì cái lõi, cái thực chất Tế Hanh, người tình nhân, vẫn còn lại dó:

       Ngày mai đây trong biến động liên hổi Anh không thể giư cả nhưng gì yêu quý nhất Nhưng tình anh đối với em không thể mất

        Người tình nhân trong anh bây giờ vẫn tặng những gì gần gũi:

Một chút buồn trong nắng trong cây

Một chút buồn trong gió trong măy

Nhung mà anh đã đi xa về!

Tặng vật phải có gì khác nữa:

Tặng em thế kỷ chúng ta

Nỗi vui nỗi khổ đều qua vội vàng

        “Tặng em thế kỳ chúng ta”, đây là cái thời đại, lịch sử đem đến. Nhung “nỗi vui nỗi khổ”… đấy lại Tế Hanh rồi. Cái giỏi của Tế Hanh là ờ chỗ ấy. Anh đã làm cho các điều xa lạ hóa thân quen:

Tưởng như trăng gió không thay đổi

Mà tấm lòng tôi đữ khác xa

Đọc thơ anh, bảo rằng đã khác xa cũng được.

Mà bảo là không thay đổi cũng được:

Em đang gieo giống, anh chào

Bóng anh lái máy ngả vào tay em

       Gieo giống, lái máy là chuyện khá xa với tình yêu. Nhưng thuần hóa nó thế nào mà Tế Hanh đã đưa nó vào rất đỗi hồn nhiên, tự nhiên trong câu thơ có anh và em muôn thuở:

       Tên lửa sáng đi vào vũ trụ Qua chòm sao Thết Nữ ghé chơi Vũ trụ, chòm sao, tên lửa là chuyện ở trên trời. Nhưng ghé chơi, thì đã lại gần rồi. Tế Hanh đã đưa các chuyện cực vời xa vào quỹ đạo tình cảm quen thuộc dưới mặt đất:

Sáng tứ Matxcơva

Mùa đông bay tuyết trắng

Chiều đa đến Yalta

Mùa thu còn húng nắng

       Những điểm không gian xa đã nhịp theo cái nhịp điệu thời gian thu đông, chiều sáng rất gần.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: bài thơ thiếu nhi

Mỗi nhà thơ có một cái tạng riêng

       Gặp nhau trong Đại hội văn nghệ toàn quốc áp sát ngày nổ súng 1946, Hanh về lại Khu V, tôi về Huế rồi dần ra Khu IV, bặt tin nhau từ đấy. Cho đến mấy năm sau, giữa những ngày kháng chiến gian khổ nhất, tôi được tin anh đang ở Cực Nam, cái miền cực nhất, và cùng với Nam Bộ, là nơi xa nhất lúc bấy giờ. Ốm yếu như Hanh mà đi xa được đến thế kia sao? 

Mỗi nhà thơ có một cái tạng riêng

       Tôi lại được đọc bài thơ Người đàn bà Ninh Thuận rất xúc động của anh lúc ấy. Thường quen viết về mình, Hanh lại có thể viết thành công về đề tài ngoài mình, xa mình thế kia sao? Hồi ấy tôi mới chỉ hiểu phần mình (personnel), chứ chưa hiểu phần không phải mình ,(impersonnel), rất cần trong thơ trong văn học. Là cái bóng quẩn bên chân mình, chúng tôi cũng có thể đi xa, nhưng một hướng khác, và chính là nhờ Cách mạng chúng tôi làm cuộc hành trình quá xa mà không rơi vào cái bẫy của hư vô hay của quân thù.

          Mỗi nhà thơ có một cái tạng riêng, và nhiều cái tạng khác nhau đó, đã làm nên một nền văn học phong phú và đa dạng Về làng cũ, về vườn xưa, về phương Nam, về với một bàn tay em, về bên giếng giặt, về với cái gì thân quen, gần gũi, là cảm giác toát ra từ thế giới thơ anh. Giữa lúc người ta nói hỏa ngục thiên thai, chiến địa, thuở hồng hoang xa tắp thì anh nói đến làng, đến nhà ga một ngày chủ nhật.

         Dù anh viết khá hay về biển, biển trong bão dữ, nghĩ đến anh, tôi vẫn nghĩ đến cái êm đềm của những con sông. Chim, anh viết hay, không phải là hải âu mà là chim én. Anh có thể tả mùa hè rực rỡ nhung hình như anh xúc động nhất về mùa thu. Anh không tả giỏi mặt trời bằng tả vầng trăng, cái vầng trăng làm cho những nông trường cũng mênh mông theo nó. Mặt trời của anh khi nào chói quá, thì anh kìm nó lại bằng một dòng sông hay những bóng cây xanh. Và cây xanh thì có lẽ anh yêu nó hơn khi ở trong vườn, “ờ đó cây mỗi ngày mỗi xanh” hơn là ờ những khu rừng! Mà anh đã dưới bom đạn đi qua hàng nghìn cây số rừng Trường Son rồi đấy. Tôi đã nói mỗi nhà thơ có một cái tạng riêng mà! Nếu vào trong khu vườn, Xuân Diệu sẽ ngoạm vào các trái hồng lẫn cả hái xanh, Huy Cận lắng nghe chất nhựa trên cành, người nào đó hì hục tìm thơ trong bộrễ âm thầm, còn với Hanh thì màu xanh của lá cũng đủ cho anh hạnh phúc.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tho thieu nhi

Thứ Tư, 29 tháng 7, 2015

Tế Hanh tìm đến thực tế trong thơ

    Giữa lúc Thơ Mới đang tập tễnh đi vào các đề tài trụy lạc, siêu hình, thì Tế Hanh tìm đến thực tế:

Những ngày nghi học tôi hay đến

Đón chuyến tàu đi, đến những ga

Tế Hanh tìm đến thực tế trong thơ


Hoặc anh trở về làng quê gốc rễ của anh:

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới

        Manh nha thay, thấy chưa rõ nhưng mà đã thấy, sau cảnh vật kia, là những vấn đề:

San sẻ củng người nỗi ước mơ Khi mùa màng đến. Nỗi buồn lo Khi mùa măng mất…

        Anh không phải chống lại mình, chống lại một thiên đường, địa ngục gần gũi hay xa xôi nào để đi vào Cách mạng. Vào Cách mạng rồi, anh cũng không phải dừng lâu bất tận hay sa lầy trong một giai đoạn ấu trĩ nào – một thứ chủ nghĩa hiện thực 50% nào, ở đó phần ngoại cảnh lấn phần tâm tình, phần sự vật lấn phần nhân vật. Anh vốn có con mắt từng thấy được: Cắnh buồm to như mảnh hồn làng.

       Khả năng nhìn thấy hồn sự vật khả năng suy nghĩ trừu tượng của anh khá mạnh. Nhưng hình như nói đến anh, người ta hay nghĩ đén thơ tình, đến trái tim yếu đuối của anh, hơn là những thao tác sắc sảo của trí tuệ.

Biết bao huyền diệu trong đời trái

Từ cỗi hư vô đến tượng hình

       1942, khi bình về thơ Tế Hanh, anh Hoài Thanh viết: “Chưa thể biết rỗ con đường người sẽ đĩ”. Ba năm nữa Cách mạng mới đến. Mà hồi ấy trong văn học, ngoài Tố Hữu, mấy ai nghĩ là “Nó” thế nào và “Nó” có xẩy ra không? ồ, nếu Cách mạng không đến thì Tế Hanh sẽ thế nào nhỉ? Có khi anh thành nhà thơ trừu tượng cũng nên.

Ta đứng trên cao gió lộng bày

Ngọn đèn tin tưởng đảo diễn lay

        May thay Cách mạng đã đến! Từ trên cao hoang tưởng lồng lộng gió siêu hình, bọn chúng tôi, trong đó có Tế Hanh, roi tõm xuống đất. Cái đất thực của đời, ở đó ta nghe cái gió thực của đời, hái các trái thực của đòi không kém phần huyền diệu! Chính bàn tay ta làm cho các trái ấy tượng hình:

Hai hàng đào mận vây sân biếc

Hứng gió mùa xuân, gió Điện Biên…

… Nghe mẹ nói anh có về hái ổi

Em nhìn lên vòm cây gió thổi

Lá như môi thầm thỉ gọi anh về

       Trước Cách mạng, Tế Hanh đã thực. Nhung phải với Cách mạng, anh mới thực hơn:

      Có lần tôi tìm mũi Một tập Aragon Ra chợ Trời lại thấy Dề giá năm mươi đồng

      Chính cũng nhờ những nhà thơ Cách mạng đi trước, những Maiakovsky, Eluard, Aragon hiện thực, đã giúp cho chúng tôi có cái thực ấy (các ông đã từ bỏ thế giới vị lai hay siêu thực của mình). Nhưng cũng chính nhờ Cách mạng, Tế Hanh lại còn có những giấc mơ đầy ý nghĩa:

Chiêm bao bừng tỉnh giấc  

Biết là em đã xa

Trên tường một tia sáng

Biết là đêm đã qua

       Cảm ơn bóng đêm. Nhưng càng cảm ơn bức tường và tia sáng. Đêm bây giờ là của Tế Hanh. Nhưng tia sáng trên tường kia thực của anh hơn.

        Cảm ơn con đường thơ Cách mạng đã đưa thế hệ chúng tôi đến với thực và mộng ấy.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ thiếu nhi

Nét xuân trong những ngày cách mạng

          Ai là người đầu tiên trong lịch sử xa xưa đã nắm nhành đào chào mùa xuân đến? Năm nay tôi nghĩ rằng đấy phải là một người cầm gươm đánh giặc. Đi qua rừng, gặp mùa xuân đến, đến sóng đôi cùng với chiến thắng của mình, người ấy đã chặt một cành đào, đưa cao lên, đấy là cờ, đấy là hoa, mà đấy cũng là nỗi vui thắng trận.

Nét xuân trong những ngày cách mạng

         Chính nỗi vui chiến thắng của nhân dân nửa nước ta ở miền Nam đánh trả bọn lấn chiếm, đã xui tôi năm nay nghĩ ra như vậy. Miền Nam năm nay hoa mai vàng rực rỡ hơn bao giờ hết. Quyện trong thuốc pháo mà thơm.

         Mùa xuân đến rồi. Sức lực dồi dào và cũng là dữ dội. Sức lực dồi dào với chúng ta, và dữ dội với bọn giá người bán nước ở Sài Gòn quyết tâm ôm chân đế quốc Mỹ và phá hoại Hiệp định Paris. Có phải Xuân này chúng khiếp sợ hơn bất kỳ lúc nào? Chưa Xuân mà Thiệu đã treo khăn tang, cờ rủ những ba ngày. Nỗi vui của chúng ta là làm bằng nỗi vui của chúng ta – nỗi vui của chúng ta cũng làm bằng nỗi khiếp sợ treo lên, nỗi khiếp sợ rũ xuống của Thiệu và bè lũ.

        Mùa xuân, mùa nhân hậu, thương yêu. Tết là lúc chúng ta nâng sự sống và lòng chúng ta lên hoàn mỹ. Miệng ta nếm những thức ngon nhất trong năm, mắt ta say các màu đẹp nhất của đời, phổi ta thấm mùi hoa và hương trầm, tai ta giàu lên bởi tiếng hát, tiếng chim và các lời chúc tụng. Con người trở về với cái gốc, cái nguồn của lòng mình là sự hòa hợp, là sự yêu thương. Người với người là bạn.

         Nhưng ta không thể mơ hồ khoảnh khắc, mảy may, với bọn “dạ thú mặt người”, ‘‘kẻ thù mang mặt nhân loại” như chữ của Eluard. Không thể có một sự nhân hậu nào đối với những bọn nửa đêm giao thừa còn cấp tập pháo vào các xóm làng yên lành, giữa ngày Xuân, còn trút bom mẹ bom con xuống những vùng giải phóng. Không thể có thương yêu tí chút nào đối với những tên bạo chúa giờ này còn giam hãm hàng chục vạn đồng bào ta từ Côn Sơn cho đến Chí Hòa, chỉ vì đồng bào muốn có hòa bình. Đừng để một cành đào, cành mai hay màn khói pháo tết nào che lấp ta những nỗi đau của hàng chục triệu nhân dân ở miền Nam đói khổ, che khuất tội ác của Thiệu và của đế quốc Mỹ. Từ Johnson, Nixon đến Ford hay Kissinger cũng thế, chúng đã và đang gây ra bao máu xương tang tóc ở miền Nam. Chỉ có giáng trả ra trò bọn lấn chiếm, bọn phá hoại Hiệp định Paris thì mới có hòa bình và hòa hợp dân tộc thực sự, mới có tết và mùa xuân thực sự.

         Lời chào đầu tiên xin gửi đến hàng triệu đồng bào ta vừa được giải phóng trong năm qua ở miền Nam. Lời chào từ Thăng Long, từ Hà Nội. Với đồng bào, mùa xuân đến sớm hơn thời tiết:

Thời gian đi nhanh quá

Quân ta còn nhanh hơn

Ta vin cành Xuân ấy

Khi mùa đông đang còn.

          Giữa cảnh áp bức đói khổ của đồng bào, thì mùa xuân đến. Cách mạng là ngày hội của người nô lệ. Và Tết nào quý bằng độc lập, tự do? Có thể nói trong toàn quốc, năm nay đồng bào là những người vui tết hơn tất cả, ào dù cái tết ấy còn bao nhiêu thiếu thốn, khó khăn về vật chất. Hôm nay dẫm chân lên đất, đồng bào mói có thể nói “đất mình”, đua lay ôm người, đồng bào mói có thể nói “người mình”. Và tất cả lại làm lại từ đầu, tất cả. Ngày Xuân cổ truyền của dân tộc, có lẽ nhà nông hạ điền, nhà văn khai bút, và mọi người mùng tuổi xuất hành. Đồng bào trồng trọt cấy cày bao năm nhung hôm nay mói thức hạ điền, nhiều anh chị làm nghề giấy bút một đời, nhung từ nay mới là vì nhân dân khai bút. Chúng tôi xin mừng tuổi bà con, đây là tuổi đầu Cách mạng.


Nuôi dưỡng “hồn nhiên” để chống lại “công thức”

       Hồn nhiên không phải chỉ là sản phẩm của tự nhiên mà còn là của xã hội. Nó không phải chỉ có tính cách cố định bất biến, mà phải có tính tiến triển theo lịch sử; thời gian. Ngày xưa chỉ có tình mẹ con, ngày nay ta có tình quốc tế. Khi anh Mo- ri-son người Mỹ tự thiêu vì Việt Nam để phản đối bọn xâm lược Mỹ, khi quân tình nguyện Việt Nam sẵn sàng hy sinh để bảo vệ các dân tộc anh em trên bán đảo, đó là các tình cảm hết sức hồn nhiên của thời ta.

Nuôi dưỡng “hồn nhiên” để chống lại “công thức”

      Nhiều nhà bác học, có khi quá dựa vào cái hồn nhiên cũ, đã không chấp nhận cho một hồn nhiên mới đến. Nhiều năm, hàn lâm viện các nước đã thảo luận, có thể có cái gọi là tàu bay hay không. Viện sĩ hàn lâm Pháp nổi tiếng Rôlăng thì khẳng định rằng không thể có cái gì nặng hơn không khí bay lên không được. Và tự thiết kế chế tạo, và điều khiển máy bay cất cánh vào khí quyển lại là anh em Ra-ít đua xe đạp kia. Nhà bác học Liên Xô, Ô-sép-cốp có kể chuyện một người đã phỏng vấn nhà bác học vĩ đại Einstein làm sao ông có thể phát minh ra thuyết tương đối. Einstein nghĩ một lúc rồi đáp: “Rết đơn giản. Mọi người đều biết rằng điều này không thể làm được. Nhưng có một người ngu dốt không biết như thế đã làm ra cái phát minh này!” Ấy thế nhưng cũng chính ông, theo Ô-sép-cốp, đã lại không tín vào khả năng giải phóng năng lượng nguyên tử, khi phóng viên Mỹ Lao-răng-xơ phỏng vấn ông.

      Tóm lại, mỗi người chúng ta đều cần chuẩn bị đón những cái hồn nhiên mới, cao hơn, lúc đầu thì nó lạ, nhưng sau nó lại quen đi và hồn nhiên như cái cũ.

Gì cũ bằng đi chân trên đường phẳng. Nhưng lâu ngày ở rừng, leo núi thì:

Chiều nay ra khỏi núi rừng,

Đường bằng, chân lạ ngập ngừng khó đi.

       Tình cảm nào lạ bằng tình cảm intercosmos. Ấy thế nhưng khi Phạm Tuân bay vào vũ trụ thì biết bao bài thơ đã viết về anh, về vũ trụ, rất hồn nhiên. Chi vì những bài thơ viết về đề tài ấy là viết bằng tình cảm tự trong lòng. Công thức chỉ là cái gì không xuất phát từ trong lòng, và vì thế phải vay mượn các chữ, danh từ, các khẩu hiệu nó cứ ở ngoài miệng, ngoài da, chưa chịu vào trong để biến thành máu thịt. Thấy người ta ca tụng bay vào vũ trụ thì mình cũng “Ôi thiên hà! A, vũ trụ!” thế thôi. Muốn chống công thức, muốn nuôi dưỡng hồn nhiên, phải động não tìm tòi, phải phát huy óc tưởng tượng, phải vào sâu hiện thực, như ta đã biết. Nhưng trên hết cả đâu phải con mắt, hay bộ não, mà là trái tim. Phải bằng tình cảm yêu mến thực, căm thù thực, xúc động thực, mà chống công thức, giữ được hồn nhiên.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: cuộc thi thơ

Nét mộc mạc hồn nhiên trong văn thơ

    Trong tập thơ BẦU TRỜI VÀ QUẢ TRỨNG của Xuân Quỳnh, theo tôi đấy là một tập thơ rất hay trong những năm gần đây, ở bài Con yêu mẹ đã diễn đạt lại cái trò chơi ấy:

Con yêu mẹ bằng ông trời.

Nét mộc mạc hồn nhiên trong văn thơ


Rồi:

Con yêu mẹ bằng trường học.

Cuối cùng thì:

Tính mẹ cứ là hay nhớ

Lúc nào cũng muốn bên con

Nếu có cái gì gần hơn

Con yêu mẹ bằng cái đó.

À, mẹ ơi! có con dế

Luôn trong bao diêm con dây

Mở ra là con thây ngay

Con yêu mẹ bằng con dế.

Tôi cũng nhớ một câu thơ khác về tình mẹ, của một cháu bé miền Nam tập kết ra Bắc:

Ở đây con chá thiếu gì

Chi riêng thiếu mẹ, mỗi khi nhớ nhà.

Hai câu hết sức hồn nhiên! Hết sức hay! Nhờ bởi hết sức thực.

       Chúng ta chống công thức không phải bằng văn vẻ – văn hoa, hoa hòe, hoa sói gì, mà bằng hiện thực, chân thực. Tưởng tượng và hiện thực là hai sức mạnh để phá vỡ công thức. Nàng Tiên trên mặt đất và mặt đất của nàng Tiên ấy đều quan trọng như nhau.

      Ở trên, chúng ta đã nói tuy các vật giống nhau, con người giống nhau trên đại thể, nhưng đi sâu vào chi ly chi tiết thì mỗi vật, mỗi người, thậm chí mỗi dấu tay, mỗi mùi hương đều có nét riêng. Người ta nói mùa thu lá vàng, mùa thu sương mù, nói mãi nói hoài, đã thành công thức. Anh Xuân Diệu nhìn kỹ, cụ thể, chi ly, hóa ra thực tế Việt Nam không phải vậy. Từ đó đẻ ra câu văn rất thực, rất hay, và rất hồn nhiên: “Mùa thu lá không vàng, Iđ không rụng, lá lại thêm xanh. Chưa có sương mủ, chưa có sương mờ, chi là đôi thoáng sương mơ…”

      Tập cho em quan sát, phân tích, lật lại lật đi, về ngoại cảnh cũng vậy, về nội tâm cũng vậy. Tự nhiên các em sẽ nắm được tình thực, cảnh thực, ý thực. Và các bạn sẽ thấy: khi đã thực, không thể nào rơi vào công thức được.

     Qua thơ thiếu nhi, qua các cuộc thi của báo Khăn Quàng Đỏ, tôi thấy các bài hay của các em hầu hết đều là những bài thực và nhờ thế mà rất hồn nhiên.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ về trẻ em

Nguyên nhân làm con người từ hồn nhiên đi đến công thức

     Có vô vàn nguyên nhân tổng hợp lại để làm con người từ hồn nhiên đi đến công thức. Tôi thử kể vài nguyên nhân nổi bật nhất: lười, chẳng hạn. Trong làm thơ, viết văn, lười tìm tòi, lười động não, bạ cái gì đến trong đầu là viết cái ấy, và những cái dễ đến nhất là các chữ, các hình công thức có sẵn mà mọi người đã dùng mòn. Tả lúa ư, thì lúa vàng rực rỡ. Tả ngói à? Là mái ngói đỏ tươi. Tả huy hiệu Đoàn ư? Thế tất là huy hiệu Đoàn phải lấp lánh… Nhưng đằng sau cái lười tìm ý, tìm hình, tìm chữ ấy là một sự lười to lớn hơn. Lười tìm xem “mình là ai?” Trong công việc hướng nghiệp hiện nay, chính việc tìm ấy là việc đầu tiên. Thầy giáo tìm. Học sinh tự tìm. Trong dàn nhạc, mình là cái trống, hay cây đàn, và đó là đàn dương cầm, vĩ cầm hay đàn nguyệt, phải tìm cho rõ.

Nguyên nhân làm con người từ hồn nhiên đi đến công thức

       Nguyên nhân khác làm cho người ta dễ công thức là thiếu óc tưởng tượng. Người ta không muốn nghĩ ra cái gì khác những cái đã có, thậm chí đã cũ mòn. Nhờ tưởng tượng, cái anh đã tìm, tôi tìm thêm nữa. Anh viết: “Cầu bao nhiêu nhịp, em thương mình bấy nhiêu”. Tôi sẽ viết khác: “Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu”. Và người thứ ba có khác tí nữa: “Mái bao nhiêu lạt, thương bà bấy nhiêu”. Người thứ ba chê các câu trên là chỉ vì tình cảm với các vật bất động. Anh ta muôn tả trong thể động chứ không phải thể tĩnh. Và anh ta viết: “Sóng bao nhiêu gợn, dạ em sầu bấy nhiêu”. Hay hơn, Apollinae đã viết: “Người thứ nhất ví phụ nữ với hoa hồng, đấy là một tài năng. Người thứ hai lại ví thế, đó là thằng ngốc…”

     Tưởng tượng giúp chống công thức trong thơ, và tưởng tượng cũng giúp chống công thức trong đời. Để phá cái công thức “con người phải bóc lột con người” đã vạn năm, Marx – Engels đã tưởng tượng ra cái xã hội xã hội chủ nghĩa, “con người giúp đỡ con người”, bây giờ nó là thực sự vĩ đại.

       Có người nhầm tưởng tượng với văn vẻ, văn hoa. Và họ ngỡ chống các chữ rỗng không, sáo mòn, khô khan nghe như “khẩu hiệu” bằng các từ ướt át, mượt mà, bóng bẩy. Có khá bài văn được giải của các em bị nhiễm cái bệnh văn vẻ – văn hoa này. Thậm chí có ông giáo còn tập cho các em có dáng suy nghĩ, trầm ngâm, cắn bút, mơ màng làm ra vẻ văn nghệ sĩ, ngỡ thế mới là chống công thức. Đâu có phải! Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn các cháu, thấy giới thiệu một câu hỏi: “Nhìn biển cả bao la, cháu nghĩ điều gì?” Và một câu trả lời duy nhất: “Đến tình thương của mẹ”.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: tho tre em

Thứ Ba, 28 tháng 7, 2015

Làm gì cũng phải theo công thức?

Trở lại vân đề thơ, hãy lấy một câu:

Qua cầu dừng bước trên cầu,

Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu.

Biết bao nhiêu câu khác giống với câu ấy:

Qua đình ngả nón trên đình,

Đình bao nhiêu ngói, thương mình bấy nhiêu.

Làm gì cũng phải theo công thức?

Hay:

Nằm trên luộc lạt mái nhà,

Mái bao nhiêu lạt, thương bà bấy nhiêu.

Rồi:

Chiều chiều bước xuống ghe buôn,

Sóng bao nhiêu gọn, dạ em buồn bấy nhiêu.

    Các câu giống nhau ư? Không, các câu rất khác nhau đấy! Hay đúng hơn: vừa giống vừa khác, vừa nói một ý chung, vừa có những nét hay riêng.

    Tôi đưa ví dụ này ra để cho chúng ta đừng quá khiếp sợ trước cái sức mạnh áp đảo của công thức. Tự nó, các vật vừa đều giống nhau vừa muốn khác nhau. Người ta, ngoài chữ ký, còn điểm chỉ các ngón tay, bởi vì hàng chục triệu ngón tay chả dấu ngón nào giống dấu ngón nào. Công an hay dùng một loại chó gọi là “cảnh khuyển” để bắt bọn gian, dựa trên khả năng loại chó này có thể phân biệt hơi người. Và quả thật hàng chục chục triệu người, chả hơi ai giống hơi ai cả. Tâm tính con người còn phức tạp hơn.

    Thậm chí hai đứa trẻ sinh đôi giống nhau như một, giống đến có thể làm bố mẹ lầm, vẫn có khác nhau về tâm tính. Thầy giáo hướng nghiệp khi theo dõi hai em này không thể chỉ căn cứ hai em cùng một gia đình, một giai cấp, một hoàn cảnh giáo dục, liền chọn hai em một nghề nghiệp giống nhau. Trong khi bày cho các em làm thơ, chúng ta có chú ý điểm này chăng? Chúng ta chống công thức chủ nghĩa nhưng phải biết quý cái công thức. Cũng như vậy, chúng ta chống cá nhân chủ nghĩa, nhưng cái cá nhân, cá tính, bản lĩnh, bản sắc từng em, thì phải hết sức bảo vệ và trau dồi. Cái chung giàu lên nhờ vô vàn cái riêng đa dạng ấy.

   Nhưng vì sao mà người ta đánh mất cái hồn nhiên, đánh mất bản sắc, rơi vào công thức chủ nghĩa nhỉ? Đâu có phải vì trong các lối diễn tả, có một lối diễn tả công thức. Đâu có phải vì con người cần thích nghi với xã hội, cần làm theo các công thức của chung quanh, cần giống với chung quanh. Nhìn lại các người tài năng, các vĩ nhân, có phải là những người có bản lĩnh riêng, cá tính riêng lỗi lạc hơn ai cả, trộn không lẫn, nhưng cũng lại có tính xã hội hơn ai cả, được xã hội xem như hình ảnh của chính mình, đưa thành thần tượng.

Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ trẻ em

Những áp lực của các công thức xã hội

      Dạy con từ thuở lên ba, trong hai chữ mẫu giáo có chữ giáo, từ đó đẻ ra cái luật. Rời khỏi tuổi thơ là rời khỏi cái thế giới đếm bằng ngón tay, để vào cái thế giới có phép cửu chương, bài toán, rời khỏi cái thì giờ cụ thể mai, sáng, trưa, chiều, tối để vào cái thời gian lịch sử đời Lý, đời Trần, rời khỏi cái địa lý cụ thể trường học, gia đình đề đến với các bản đồ về Tổ quốc, về hành tinh, về vũ trụ nữa. Rồi tuổi thơ là rời cái thế giới của những cảm xúc để đến với các ý niệm, các định luật, rời trái táo ăn được để đến với trái táo Nevvton nói lên sức hút của quả đất, có thế, em mới thành nhà toán học, khoa học được chứ! Ngay cả nhà thơ cũng vậy. Một nhà thơ chỉ có cảm xúc mà không biết các ý, các khái niệm thì khác gì một con vật không có xương.

Những áp lực của các công thức xã hội

Ấy thế nhưng đã đi vào cái thế giới của con số, biểu đồ, ý niệm, định luật, khái niệm, công thức thì sao quá khô khan, thì dễ gì tránh được “công thức”? Chưa nói vào xã hội lớn, nhưng ngay ở xã hội mẫu giáo, là các em đã phải bớt tùy hứng để cùng đọc chung một lời chào: “Cháu chào cô ạ!” Ra đến ngoài đường, cùng theo chung một kỷ luật của đèn đỏ, đèn xanh… Đến khi vào Đội vào Đoàn, đều phải theo chung những nguyên tắc, nội quy, làm cho người này phải giống với người khác, làm như người khác. Không thế thì chỉ còn những cá nhân, chứ không còn xã hội.

Cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu lo sợ trước áp lực của các công thức xã hội đó, thử tách riêng một số em ra nuôi dưỡng, xem các em có thể giữ mãi cái hồn nhiên không? Thì chả thấy hồn nhiên đâu, chỉ thấy các em ngớ ngẩn đi, ngây ngô đi, bớt thông minh, trở nên lạc hậu. Người ta chưa tìm ra khuynh hướng thoát ly ở đứa trẻ. Nhưng người ta tìm ra hai khuynh hướng lớn này: thích nghi, hoặc vượt lên. Cái khuynh hướng thích nghi làm ra xã hội, khiến xã hội tồn tại. Và khuynh hướng vượt lên khiến xã hội tiến triển, trưởng thành (devenir). Trong hai khuynh hướng ấy, thích nghi là điều cấp bách, tuy nó dễ đẻ ra bảo thủ. Vấn đề ra làm sao cho đứa bé đang thích nghi cùng xã hội, nhập vào xã hội mà không trở nên công thức rập khuôn máy móc, tan biến, hòa tan, tha hóa; muốn thế, vừa dạy cho các em cố gắng giống với chung quanh lại phải cố gắng giữ bản sắc mình, bản lĩnh mình, mình giống với mình, mình thực với mình.


Đọc thêm tại: http://dauanvanhoc.blogspot.com/2015/07/bat-chuoc-la-ban-nang-cua-nguoi-tu-tam.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: thơ thiếu nhi hay

Bắt chước là bản năng của người từ tấm bé

Cách đây mấy nghìn năm, Aristote đã nói, đại ý: “Bắt chước là bản năng của người từ tấm bé. Ở điểm này, con người tự phân biệt mình với các sinh vật khác, nhờ ở cái khả năng bắt chước rất phát triển của mình”. Chữ như là một chữ làm ra xã hội. Quyển sách viết về Nguyễn Văn Trỗi lấy tiêu đề là SỐNG NHƯ ANH. Vấn đề là phải sống như người mà cũng phải sống như mình.

Bắt chước là bản năng của người từ tấm bé

Giuy-li-ét sắp xếp các thời kỳ hồn nhiên, dụng ý, công thức tuần tự trước sau như vậy là khá đúng. Nhưng điều này cũng đúng: là ba lối diễn tả trên kia vừa tuần tự lại cũng vừa đồng thời cùng một lúc. Cuộc sống gồm đủ các yếu tố, không thể thiếu yếu tố nào, dù đa lượng, dù vi lượng.

Tôi đã thấy một em bé 8 tuổi diễn tả, sáng tác hoàn toàn theo lối như người khác, nghĩa là bắt chước. Nghe người ta làm thơ chữ Hán, em cũng làm:

Lục thiên nhĩ thổ đào như tuyết Ngũ hầu phú nữ thái lan tiên

Câu thơ hoàn toàn vô nghĩa, vì em có biết chữ Hán nào đâu, em chơi trò chơi người lớn thế thôi. Nhưng đồng thời, em cũng diễn tả khá hồn nhiên, tùy hứng:

Bé ngoan ăn hành cho béo Tí tẹo lại khóc oe oe Toe toe thằng Cu đang thổi Cái chổi đang quét trong nhà Bà già đang ngồi đun bếp Nếp nếp cái áo gấp rồi Bồi hổi bé ra ngoài cổng

Bổng bổng cái con chuồn chuồn Luồn luồn hai tay bắt lấy Cấy mạ ở tận ngoài đồng Hồng hồng ông già mặt đỏ…

Thế nhưng ai bảo ở bài hồn nhiên đầy sáng tạo, gọi mặt trời là ông già mặt đỏ này không có bắt chước? Bắt chước cái khuôn, cái công thức 6 chữ có sẵn, dựa vào đó, em trút cảm xúc của mình. Cũng vậy, ở hai câu chữ Hán giả mạo, bắt chước kia, em gái nhỏ có dụng ý. Em đã đưa các cô Thái, cô Đào, cô Tuyết, cô Lan là tên các cô trong cơ quan vào hai câu thơ ấy. Ra-gia- dét-la-va tìm ra ba loại thi sĩ chứ không phải một loại thi sĩ. Aristote tìm ra cho thơ hai nguồn gốc chứ không phải một: nguồn “khả năng bắt chước” và nguồn “thích viết điệu hài hòa” của nhân loại.

Như vậy, trong một bài thơ không phải chỉ có một yếu tố hồn nhiên hay dụng ý, hay công thức, mà là ba yếu tố đồng thời có mặt, xung đột, hỗn hợp, bổ sung nhau. Điều khiển thế nào đó thì lửa đun sôi nước, và điều khiển thế nào thì nước làm tắt lửa.

Nhiệm vụ của trẻ em là phải lớn lên, trở thành người lớn. Lớn tức là rời khỏi tuổi nhỏ tùy hứng, hồn nhiên, có thể tự do gọi ông nội bằng thằng, và được ông nội ôm hôn, để vào cái tuổi có cả một bộ luật phải theo, đi thưa, về trình, trưa ngủ phải nhắm mắt, trước khi ăn phải rửa tay, phải làm như thế này, không được làm như thế khác.



Cách đây mấy nghìn năm, Aristote đã nói, đại ý: “Bắt chước là bản năng của người từ tấm bé. Ở điểm này, con người tự phân biệt mình với các sinh vật khác, nhờ ở cái khả năng bắt chước rất phát triển của mình”. Chữ như là một chữ làm ra xã hội. Quyển sách viết về Nguyễn Văn Trỗi lấy tiêu đề là SỐNG NHƯ ANH. Vấn đề là phải sống như người mà cũng phải sống như mình.

Giuy-li-ét sắp xếp các thời kỳ hồn nhiên, dụng ý, công thức tuần tự trước sau như vậy là khá đúng. Nhưng điều này cũng đúng: là ba lối diễn tả trên kia vừa tuần tự lại cũng vừa đồng thời cùng một lúc. Cuộc sống gồm đủ các yếu tố, không thể thiếu yếu tố nào, dù đa lượng, dù vi lượng.

Tôi đã thấy một em bé 8 tuổi diễn tả, sáng tác hoàn toàn theo lối như người khác, nghĩa là bắt chước. Nghe người ta làm thơ chữ Hán, em cũng làm:

Lục thiên nhĩ thổ đào như tuyết Ngũ hầu phú nữ thái lan tiên

Câu thơ hoàn toàn vô nghĩa, vì em có biết chữ Hán nào đâu, em chơi trò chơi người lớn thế thôi. Nhưng đồng thời, em cũng diễn tả khá hồn nhiên, tùy hứng:

Bé ngoan ăn hành cho béo Tí tẹo lại khóc oe oe Toe toe thằng Cu đang thổi Cái chổi đang quét trong nhà Bà già đang ngồi đun bếp Nếp nếp cái áo gấp rồi Bồi hổi bé ra ngoài cổng

Bổng bổng cái con chuồn chuồn Luồn luồn hai tay bắt lấy Cấy mạ ở tận ngoài đồng Hồng hồng ông già mặt đỏ…

Thế nhưng ai bảo ở bài hồn nhiên đầy sáng tạo, gọi mặt trời là ông già mặt đỏ này không có bắt chước? Bắt chước cái khuôn, cái công thức 6 chữ có sẵn, dựa vào đó, em trút cảm xúc của mình. Cũng vậy, ở hai câu chữ Hán giả mạo, bắt chước kia, em gái nhỏ có dụng ý. Em đã đưa các cô Thái, cô Đào, cô Tuyết, cô Lan là tên các cô trong cơ quan vào hai câu thơ ấy. Ra-gia- dét-la-va tìm ra ba loại thi sĩ chứ không phải một loại thi sĩ. Aristote tìm ra cho thơ hai nguồn gốc chứ không phải một: nguồn “khả năng bắt chước” và nguồn “thích viết điệu hài hòa” của nhân loại.

Như vậy, trong một bài thơ không phải chỉ có một yếu tố hồn nhiên hay dụng ý, hay công thức, mà là ba yếu tố đồng thời có mặt, xung đột, hỗn hợp, bổ sung nhau. Điều khiển thế nào đó thì lửa đun sôi nước, và điều khiển thế nào thì nước làm tắt lửa.

Nhiệm vụ của trẻ em là phải lớn lên, trở thành người lớn. Lớn tức là rời khỏi tuổi nhỏ tùy hứng, hồn nhiên, có thể tự do gọi ông nội bằng thằng, và được ông nội ôm hôn, để vào cái tuổi có cả một bộ luật phải theo, đi thưa, về trình, trưa ngủ phải nhắm mắt, trước khi ăn phải rửa tay, phải làm như thế này, không được làm như thế khác.


Khái niệm diễn tả công thức và dụng ý

      Diễn tả tự phát hồn nhiên là lúc các em diễn tả để thỏa mãn nhu cầu của mình, không cần ai hiểu, ai thưởng thức. Các em gần như độc thoại. Lời nói, nét vẽ, câu thơ gần như chưa có hình và cũng không có nghĩa. Diễn tả dụng ý là khi các em đã thấy cần biểu lộ với một người nào đó, muốn cho họ biết, họ hiểu để họ khen mình, tỏ ý kiến với mình. Câu nói, nét vẽ bây giờ có hình và rất có nghĩa. Diễn tả công thức là lúc các em diễn tả theo cách người khác làm, hay dạy cho các em phải làm theo kiểu ấy. Các em bắt chước nhiều hơn là sáng tạo ở lối diễn tả này.

Khái niệm diễn tả công thức và dụng ý

     Giuy-li-ét Pha-vê Bu-ton-ni-ê còn gọi ba hình thái ấy băng ba cách gọi khác. Diễn tả hồn nhiên còn được gọi là diễn tả cạnh người khác (có người khác ở bên cạnh; các em cũng chả thèm khoe với). Diễn tả dụng ý còn có tên là diễn tả với người khác. Sau cùng diễn tả công thức được gọi là diễn tả như người khác.

Và theo Giuy-li-ét thì ba hình thái ấy là tuần tự trước sau, khi còn bé thì các cháu thích diễn tả hồn nhiên, lớn lên một chút, chủ yếu diễn tả dụng ý, lớn lên nữa thì diễn tả công thức. Phải chờ đợi đến tuổi dậy thì, lúc ấy hình thái công thức mới bị đẩy lùi về sau.

Tóm lại, công thức như trên là một thời kỳ không tránh khỏi. Hơn thế, theo tôi nghĩ, chúng ta chống chủ nghĩa công thức, phương pháp công thức, tức là lối rập khuôn máy móc, chứ cái khuôn, cái mô hình, cái công thức làm cho xã hội, bên cạnh yếu tố khác nhau, phải có yếu tố giống nhau, thì ta chống làm sao được? Ta sống một mình, sống bên cạnh người khác có cần không? Rất cần. Có lúc Chủ tịch Phạm Văn Đồng, hồi là Thủ tướng, đã nói với các giám đốc: “Các đồng chí họp quá nhiều! Các đồng chí bận gì đến nỗi mỗi ngày không có lấy nửa giờ, một giờ, ngồi một mình một đèn một bóng để mà suy nghĩ”. Đối thoại với người khác, là cơ sở đẻ ra xã hội, càng cần hơn. Nhưng làm như người khác, bắt chước, noi gương làm theo người khác (cố nhiên là làm theo người tốt), cần quá đi chứ!


Đọc thêm tạihttp://dauanvanhoc.blogspot.com/2015/07/cach-lam-tho-hon-nhien-va-cong-thuc.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: bai tho thieu nhi

Cách làm thơ hồn nhiên và công thức

Cháu ấy mới làm thơ mà đã công thức.

Cụ này sáng tác vẫn hồn nhiên như trẻ thơ.

Chỉ nói thế, đủ biết công thức là cái gì không hay, và hồn nhiên thì ngược lại. Chẳng cần tra tự điển nào cả, người ta đều biết công thức là đi đôi với cứng nhắc, khô khan, sáo mòn, giả tạo, bắt chước, già cỗi v.v… Nhưng vì lẽ gì mà cháu thì lại công thức, còn cụ vẫn hồn nhiên? Và làm sao cho bước đường của cháu lên anh, lên ông, lên cụ, cứ mãi hồn nhiên chứ đùng công thức? Mà hồn nhiên thực chứ không phải “cưa sừng làm nghé” như người ta thường nói đâu!

Cách làm thơ hồn nhiên và công thức

Sắp xếp trật tự hồn nhiên lên trên, công thức ở dưới kia, không phải chỉ có chúng ta. Ngay từ cổ đại, thiên hạ đều sắp xếp tương tự. Ra-gia-dét-la-va, một nhà thơ lớn Ấn Độ, chia thi sĩ ra làm ba loại. Loại một, những người sáng tác hồn nhiên, tùy hứng, như có thần trợ. Loại hai, những người nhờ tự rèn luyện. Loại ba, nhờ kiến thức, học vấn thu nhặt được của thiên hạ. Cố nhiên ông xếp loại một hơn loại hai, loại hai hơn loại ba, và riêng loại ba, ông còn phết cho một câu: “Hay dông dài ba hoa vì pha trộn những điều vô bổ lẫn các điều duyên dáng”. Chúng tôi nghĩ loại một của ông tức là loại hồn nhiên. Còn loại ba tức là loại công thức, vì xem cách ông nói thì đấy là loại những người bắt chước đọc sách không tiêu, cái hay cũng lấy, mà cái dở cũng lấy nốt.

Không thể quy định thi sĩ chỉ có một loại tuyệt đỉnh là loại hồn nhiên, hoặc hai loại (tức là thêm loại hai “lấy công bù tài”), thiếu thiên tài, chỉ có tài nàng hay khả năng thôi và tài năng hay khả năng ấy là nhờ rèn luyện mà có. Không thể quy định như vậy mà phải đèo thêm một loại thứ ba – đủ biết loại ba dù chê nó, vẫn không thể thiếu được nó, đủ biết ta chê công thức thì dễ, nhưng loại trừ công thức có dễ đâu! Vì sao vậy?

Chả lẽ nói công thức là một định mệnh? Nhưng Giuy-li-ét Pha-vê Bu-ton-ni-ê, giáo sư tâm lý ở trường đại học Sorbonne, khi nghiên cứu các hình thái diễn tả của trẻ em, đã tìm ra ba hình thái:

Hình thái tự phát hồn nhiên (spontane);

Hình thái dụng ý (intentionnel);

Hình thái công thức (coniormiste).


Đọc thêm tại: http://dauanvanhoc.blogspot.com/2015/07/tren-mat-at-hien-thuc-ta-giup-cac-em-i.html


Từ khóa tìm kiếm nhiều: bài thơ thiếu nhi